Gặp gỡ trao đổi
GÓC KHUẤT CỦA DỊCH VỤ TƯ VẤN VAY VỐN NGÂN HÀNG
(2012-08-02 10:28:00)

Bài 2: LÀM GÌ ĐỂ KHÔNG MẮC BẪY? Xung quanh tình trạng người đi vay tiền có thể mất trắng tài sản thế chấp vì mắc bẫy của một số cá nhân, tổ chức núp danh nghĩa “dịch vụ tư vấn tài chính”, “tư vấn vay vốn đáo nợ ngân hàng”…, PV An ninh Thế giới đã có cuộc trao đổi với Thẩm phán Phạm Tuấn Anh – Chánh Toà Kinh tế Toà án Nhân dân TP Hà Nội – về các vấn đề: Nguyên do nào dẫn đến tình trạng này? Người dân cần phải làm gì để không mắc bẫy? Dưới đây là nội dung cuộc trao đổi.

  PV: Thưa ông, trong năm 2008 Toà án Nhân dân TP Hà Nội đã thụ lý giải quyết bao nhiêu vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng mà trong đó có chuyện người có tài sản thế chấp vay 1 nhưng thực chất khoản tiền vay ngân hàng do dịch vụ tư vấn đứng tên nhiều gấp hàng chục lần?

 

Thẩm phán Phạm Tuấn Anh: Theo pháp luật, Toà án chỉ giải quyết vụ kiện giữa nguyên đơn là ngân hàng (bên đòi nợ) và bị đơn là cá nhân hoặc pháp nhân (bên vay nợ). Khi vay, bên vay nợ có thể thế chấp tài sản của chính mình hoặc tài sản của một người thứ ba. Thời gian gần đây trong các vụ việc Toà thụ lý thì hầu hết tài sản thế chấp đều là của người thứ ba. Trong quá trình thụ lý, giải quyết, khi tiến hành điều tra, xác minh, tìm hiểu Toà án được biết trong nhiều vụ việc, người có tài sản thế chấp chỉ có nhu cầu vay 1 nhưng thực chất khoản tiền vay ngân hàng trong hợp đồng tín dụng lại lớn gấp nhiều lần. Toà án chưa có con số thống kê chính xác nhưng thời gian gần đây số vụ việc kiểu này rất nhiều.

 

PV: Trong các vụ việc kiểu này thì người có tài sản thế chấp sẽ phải đối mặt với những rủi ro gì, thưa ông?

 

Thẩm phán Phạm Tuấn Anh: Như tôi đã nói, trong trường hợp này người có tài sản thế chấp là người thứ 3. Có nghĩa là họ không trực tiếp đứng ra ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng mà là một cá nhân hoặc một pháp nhân khác. Họ chỉ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình thế chấp cho ngân hàng để đảm bảo cho việc vay nợ này. Vì thế, họ chỉ ký một hợp đồng ba bên (gồm ngân hàng, người vay và người đứng tên tài sản thế chấp ) bảo lãnh bằng tài sản tại Phòng công chứng. Trong hợp đồng này qui định rất rõ về nghĩa vụ của người bảo lãnh là nếu bên vay nợ không có khả năng thanh toán thì ngân hàng sẽ phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nhưng do hiểu biết pháp luật hạn chế, khi ký hợp đồng bảo lãnh họ không đọc hoặc không đọc kỹ các điều khoản trong hợp đồng, thậm chí có người còn không biết đó là hợp đồng gì mà vẫn ký. Thế cho nên khi xảy ra chuyện rồi vẫn còn ngơ ngác cãi rằng, tôi có vay tiền ngân hàng đâu mà ngân hàng đòi bán nhà của tôi.

Cũng do hiểu biết pháp luật hạn chế mà khi đi vay tiền họ chỉ nghĩ rất đơn giản rằng mình muốn vay 100 triệu đồng ở ngân hàng thế chấp bằng cái nhà mình đang ở nhưng thủ tục mình không rành nên có người làm hộ mọi thứ giấy tờ, đem tiền về cho mình thì sướng quá, phải nhờ họ giúp thôi. Họ bảo đưa sổ đỏ cho họ là đưa, bảo đến Phòng công chứng ký hợp đồng bảo lãnh là ký. Còn họ vay ngân hàng bao nhiêu tiền thì không biết. Thế cho nên người dân thế chấp nhà để vay 100 triệu đồng cứ nghĩ đơn giản là tôi thế chấp nhà cho khoản vay của tôi mà không biết rằng thực chất số tiền mà bên vay ký với ngân hàng có khi lên tới hàng tỷ đồng. Có nghĩa là ngôi nhà đó đang bảo lãnh cho một khoản vay hàng tỷ đồng chứ không phải chỉ 100 triệu đồng.

Vì vậy, khi người có tài sản thế chấp đã trả đủ 100 triệu đồng tiền mình vay nhưng bên đứng tên vay nợ ngân hàng lại chưa trả 900 triệu đồng thì ngân hàng buộc phải tiến hành các thủ tục cần thiết để phát mại tài sản tức là bán tài sản thế chấp. Người dân sẽ mất nhà. Đó là rủi ro lớn nhất mà người bảo lãnh sẽ phải đối mặt.

 

PV: Thế còn trong trường hợp người có tài sản thế chấp vì ngại mất thời gian không trực tiếp đứng ra ký hợp đồng bảo lãnh mà uỷ quyền tất cho “cò mồi” làm dịch vụ thì có nguy hiểm không, thưa ông?

 

Thẩm phán Phạm Tuấn Anh: Trường hợp này rất nguy hiểm. Người có tài sản sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn. Bởi vì, khi anh đã ký giấy uỷ quyền cho “cò mồi” thì có nghĩa là “cò mồi” sẽ thay anh giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến tài sản của anh. “Cò mồi” có thể bán đứt tài sản của anh, có thể đem tài sản đó đi cầm cố mà không cần có sự đồng ý của anh. Nhưng đáng tiếc là do một số người không hiểu biết pháp luật hoặc hiểu biết hạn chế mà cứ nhắm mắt ký bừa các hợp đồng uỷ quyền. Khi ký họ cứ tưởng rằng mình uỷ quyền cho cò mồi là mình có lợi, mình sẽ không phải mất thời gian đi đến các cơ quan chức năng để làm thủ tục mà cò mồi sẽ giúp mình từ A đến Z. Chỉ đến khi xảy ra hậu quả thì cả bên vay nợ lẫn “cò mồi” được uỷ quyền trốn mất tiêu, chỉ còn lại người có tài sản là lãnh đủ hậu quả.

 

PV: Với tư cách là Chánh Toà, là thẩm phán, đã từng xét xử nhiều vụ kiện tụng liên quan đến lĩnh vực này, ông có lời khuyên gì cho người dân tránh được những cái bẫy kiểu như đã nêu trên?

 

Thẩm phán Phạm Tuấn Anh: Tại nhiều phiên toà, là người xét xử tôi rất đau lòng khi thấy nhiều người dân do thiếu hiểu biết về pháp luật, nghe lời dụ ngon dỗ ngọt của bọn “cò mồi” mà ký bừa vào các hợp đồng thế chấp, hợp đồng uỷ quyền dẫn đến hậu quả mất nhà, mất đất, mất tài sản.

 Cho nên, tôi có lời khuyên rằng, trước khi cậy nhờ vào các loại dịch vụ mà hàng ngày vẫn quảng cáo đầy trên báo chí như “tư vấn vay vốn”, “đáo nợ ngân hàng” thì người dân phải tìm hiểu thật kỹ về những người làm dịch vụ này xem họ có đáng tin cậy để giao toàn bộ tài sản của mình cho họ không? Đặc biệt, trước khi ký các hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng uỷ quyền ở Phòng công chứng, ở Ngân hàng… người dân phải đọc thật kỹ các điều khoản trong hợp đồng, phải biết được quyền và nghĩa vụ của mình, sau đó cân nhắc kỹ rồi mới đặt bút ký. Hãy nhớ đến câu nói của cổ nhân:”Bút sa gà chết” để có những quyết định sáng suốt.

 

PV: Nói như ông có nghĩa là sự thiếu cẩn trọng của người dân là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, ngoài ra không còn nguyên do nào khác…

 

Thẩm phán Phạm Tuấn Anh: Sự thiếu cẩn trọng, thiếu hiểu biết pháp luật của người dân là nguyên nhân chính nhưng không phải là tất cả. Còn nhiều nguyên nhân khác nữa. 

Ví như, thông thường hồ sơ xin vay vốn của cá nhân, của hộ gia đình thường khó được ngân hàng đáp ứng hơn là của doanh nghiệp. Vì khó nên người dân khi muốn vay vốn mới phải thông qua dịch vụ mà thực chất là “cò mồi”. Tôi chắc rằng ngân hàng không biết và không bao giờ khuyến khích việc người dân thông qua doanh nghiệp để vay vốn ngân hàng, có nghiã là nguồn vốn của ngân hàng phải qua một cầu trung gian mới đến được với người dân. Nhưng muốn biết được điều này thì ngân hàng phải kiểm soát kỹ nguồn tiền mình đã cho vay xem nó có được sử dụng đúng mục đích không, có đúng với phương án sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp trình khi vay không. Tôi nghĩ rằng, nếu ngân hàng làm tốt khâu này thì cũng sẽ hạn chế được tình trạng lợi dụng danh nghĩa doanh nghiệp để vay vốn, sử dụng tài sản của người dân để thế chấp rồi chiếm đoạt như đã nêu trên. 

Hay như việc quản lý các doanh nghiệp tư nhân làm dịch vụ tư vấn tài chính, đáo nợ ngân hàng … vẫn quảng cáo đầy rẫy trên báo chí, tôi nghĩ là chưa chặt chẽ. Lẽ ra, phải kiểm tra thật gắt gao xem doanh nghiệp đó có làm “tư vấn” thật không hay chính doanh nghiệp đó sử dụng tài sản của người dân để thế chấp và lợi dụng danh nghĩa doanh nghiệp để vay vốn ngân hàng, sau đó rồi mới ký hợp đồng cho người có tài sản thế chấp vay lại với mức lãi suất bằng hoặc thậm chí cao hơn lãi suất ngân hàng. Trong quá trình thụ lý, xét xử, tôi đã thu được rất nhiều những hợp đồng “cho vay lại” kiểu như vậy, đóng dấu đỏ của công ty hẳn hoi. Việc này là trái pháp luật vì Nhà nước đã qui định chỉ có ngân hàng và các tổ chức tín dụng mới được phép hoạt động tín dụng. Thế nhưng những việc trái pháp luật này chưa được các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nên vẫn ngang nhiên tồn tại. Người dân thì cứ thấy công ty quảng cáo trên báo chí là tin, thấy hợp đồng đóng dấu đỏ tưởng là hợp pháp, thế là đem sổ đỏ nhà đất giao cho họ. Cuối cùng, mất nhà, mất đất, mất tài sản không biết kêu ai.

 

Đặng Huyền 
Đối tác